Hạnh phúc gia đình. Ảnh: Thanh Hải
Khi tương ứng với 100 lao động chỉ có 50 "phụ thuộc" hoặc ít hơn, người ta nói một cách hình ảnh rằng, đây là "cơ cấu dân số vàng". Cơ cấu này quý, vì lao động nhiều, phụ thuộc ít, tạo ra cơ hội phát triển kinh tế. Cơ cấu này hiếm, vì nó chỉ xuất hiện một lần và kéo dài trong khoảng 30-40 năm trong lịch sử phát triển của mỗi quốc gia. Do đó, nó đúng là quý và hiến như "vàng"! Như vậy, từ năm 2006, Việt Nam đã bước vào giai đoạn có cơ cấu "dân số vàng" và dự báo thời kỳ này sẽ kết thúc vào khoảng gần giữa thế kỷ 21, khi chỉ riêng người cao tuổi đã chiếm khoảng 30% tức là dân số "siêu già" (như Nhật Bản và nhiều nước châu Âu hiện nay). Dân số "vàng" tác động đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống mỗi gia đình cũng như sự phát triển đất nước, trên tất cả các bình diện: Kinh tế, xã hội và môi trường.
Trước hết, trong thời kỳ "dân số vàng", mô hình "mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con" trở nên phổ biến nên quy mô gia đình nhỏ. Nếu năm 1979, trung bình mỗi hộ có 5,2 khẩu thì đến năm 2012, con số này chỉ còn 3,7. Kết quả điều tra mức sống dân cư nhiều năm qua đều khẳng định: Quy mô gia đình càng nhỏ thì thu nhập và tiêu dùng bình quân một người/một tháng càng cao. Trên bình diện vĩ mô, thời kỳ này, sự gia tăng dân số tiếp tục được kiềm chế, dân số dần ổn định. Trước đây, dân số tăng nhanh, có tính "bùng nổ", với tỷ lệ tăng trên 3%/năm. Giai đoạn cơ cấu dân số vàng, dân số sẽ tăng không đáng kể, chỉ dưới 1%! Do vậy, sẽ hạn chế được quy mô dân số. Một so sánh thực tế để thấy rõ điều này: Năm 1990, Việt Nam có 69 triệu dân còn Ethiopia có 48 triệu thì đến năm 2013, Việt Nam có 90 triệu dân, còn Ethiopia có tới 94 triệu! Nếu dân số Việt Nam tăng như Ethiopia, thì năm 2013 đã có tới 135 triệu người! Thật khó hình dung tác động của số dân khổng lồ này đối với kinh tế, xã hội và môi trường. Như vậy, so với Ethiopia, Việt Nam đã hạn chế được 45 triệu dân tăng thêm. Ðây là điều cần thiết cho phát triển ở một đất nước "đất chật, người đông" như Việt Nam, hiện có mật độ dân số cao gấp khoảng gần 6,5 lần mật độ dân số thế giới.
Ðặc điểm nổi bật trong thời kỳ "cơ cấu vàng" là dân số có khả năng lao động (15 đến 64 tuổi) chiếm tỷ lệ cao, hiện nay khoảng 69% tổng dân số. Như đã nói ở trên, Việt Nam hiện có 90 triệu dân. Nếu cơ cấu dân số như năm 1979, thì năm nay, nước ta chỉ có gần 47,5 triệu người trong độ tuổi lao động, nhưng trên thực tế, con số này lên đến 62,1 triệu, tức là tăng tới gần 15 triệu người so với số liệu giả định! Ðây là dư lợi lớn của "dân số vàng" cho tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, khoảng một nửa dân số trong độ tuổi lao động dưới 34 tuổi, thuận lợi cho việc tiếp thu khoa học, kỹ thuật và linh hoạt trong chuyển đổi nghề.
Tuy nhiên, theo Tổng điều tra dân số 2009, lao động Việt Nam tập trung nhiều trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, năng suất thấp. Tỷ lệ lao động được đào tạo từ sơ cấp trở lên còn rất thấp, mới khoảng 14,6% và mất cân đối theo hướng "thừa thầy, thiếu thợ". Rõ ràng, đào tạo, tái cơ cấu đào tạo và chuyển đổi nghề cho hàng chục triệu lao động là một thách thức lớn.
Thời kỳ "cơ cấu dân số vàng" đang mang lại cơ hội lớn cho việc vượt qua thách thức này để nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực - yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước. Gia đình ít con, thu nhập tăng và áp lực dân số lên hệ thống giáo dục đã được tháo gỡ. Dân số trong độ tuổi đi học (5 đến 24 tuổi) giảm từ hơn 33,2 triệu người năm 1999 xuống còn khoảng 29,5 triệu người năm 2013. Bối cảnh này đã tạo thuận lợi lớn cho gia đình và xã hội chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 58% vào đầu thập niên 90, xuống còn 20% vào năm 2012; Tỷ lệ nhập học ở các cấp học phổ thông tăng lên không ngừng nhưng số học sinh đã bắt đầu giảm. Từ "đỉnh điểm" trong năm học 2001-2002 với quy mô học sinh lên tới 17.875,6 nghìn, năm học 2010-2011 chỉ còn 14.792,83 nghìn, tức là giảm tới trên 3 triệu học sinh! Trong khi đó, giáo dục đại học phát triển mạnh. Thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, số trường đại học, cao đẳng và số sinh viên đã tăng hơn hai lần! Ðầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục đạt 20% tổng chi ngân sách nhà nước, vào loại cao trên thế giới. Kết quả này tạo điều kiện để Việt Nam phát triển giáo dục từ chiều rộng sang chiều sâu. Ngày nay, gia đình có thể cho con trai và con gái đi học như nhau. Hiện nay, ở tất cả các cấp học, tỷ lệ nữ đã ngang bằng với nam giới.
Sinh đẻ ít, có học vấn, được đào tạo, tuổi thọ cao, phụ nữ - một nửa dân số trong độ tuổi lao động sẽ tham gia hoạt động kinh tế nhiều hơn, chất lượng hơn góp phần tạo nên lực lượng lao động dồi dào, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bình đẳng giới. Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy, việc nâng cao tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của phụ nữ là chìa khóa hồi sinh kinh tế của đất nước này.
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét